Năng lượng Mặt Trời

Solar Energy

Wednesday, June 15, 2005

Năng lượng mặt trời vẫn “ở trên trời”

Khi cuộc khủng hoảng giá dầu mỏ trên toàn thế giới chưa có dấu hiệu bình ổn, nhiều quốc gia đã ưu tiên sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng mặt trời. Việt Nam là nước rất có tiềm năng về năng lượng mặt trời, nhưng ứng dụng lại rất hạn chế.

Không chuyển giao được vì... thiếu kinh phí

Việt Nam có bức xạ mặt trời vào loại cao trên thế giới, với số giờ nắng dao động từ 1600-2600 giờ/năm, đặc biệt là khu vực phía Nam. Trong giai đoạn 1980-1990, chúng ta đã có Chương trình nhà nước về Năng lượng tái tạo. Trong đó, năng lượng mặt trời được chú ý nhiều nhất với các đề tài về pin mặt trời, sấy, làm lạnh, chưng cất nước và đun nước nóng. Các đề tài đã được nghiệm thu cấp Nhà nước, phần lớn được đánh giá tốt. Tuy nhiên, do kinh phí có hạn, đa số chỉ dừng ở mẫu thí nghiệm hoặc sản xuất quy mô nhỏ, chưa được chuyển giao công nghệ để sản xuất quy mô công nghiệp.

Từ năm 1991 đến nay, hoạt động trong lĩnh vực năng lượng mặt trời bị trầm xuống vì không còn có đề tài nghiên cứu. Thấy rõ nhất là việc sử dụng năng lượng mặt trời để đun nước nóng và làm nguồn điện sinh hoạt hiện chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ. Cả nước hiện chỉ có trên 10 cơ sở kinh doanh hoặc sản xuất thiết bị đun nước nóng với tổng diện tích đã lắp đặt khoảng 4000m2. Ngoài ra, Việt Nam đã lắp đặt khoảng 800 kW hệ thống pin mặt trời, chia làm 3 thị phần: chuyên dụng (50%), dùng cho cơ quan, bệnh viện, trung tâm dân cư và trạm nạp ác quy (30%) và các hộ gia đình (20%).

Theo tính toán của các nhà khoa học, mỗi năm 1m2 thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời có thể tiết kiệm năng lượng được từ khoảng 500-900 kWh tùy theo vùng khí hậu và hiệu suất thiết bị. Như vậy, trung bình 1m2 mỗi năm giảm được khoảng 150kg khí thải CO2 so với dùng than đá, dầu hỏa hay khí đốt. Điện năng lượng mặt trời có lợi thế cung cấp cho các hộ gia đình, khu vực dân cư nông thôn biệt lập mà truyền tải lưới điện quốc gia rất tốn kém. Cho dù chương trình phát triển mở rộng lưới điện được thực hiện khẩn trương thì đến năm 2010 nước ta vẫn còn khoảng 1100 xã, làng vùng sâu, vùng xa và miền núi với 500.000 hộ gia đình (khoảng 3 triệu dân) được ngành điện xác định là lưới điện chưa thể kéo tới được. Cũng có khoảng 500.000 hộ khác trong các xã có điện vẫn được xem là không thể có điện vì chi phí đầu tư cao. Rõ ràng với những tính toán ấy, việc sử dụng năng lượng mặt trời và các nguồn năng lượng khác phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nhân dân là việc làm cần được tính đến.

Tăng tốc bằng cách nào?

Nước ta đang triển khai chương trình hành động năng lượng mới và tái tạo với tổng kinh phí khoảng 400 triệu USD tính đến năm 2010. Ngoài ra, ủy ban Dân tộc của Chính phủ cũng đang làm chủ đầu tư dự án cung cấp điện bằng các hệ thống pin mặt trời cho 300 trung tâm xã thuộc các khu vực miền núi đặc biệt khó khăn với tổng kinh phí 30 triệu USD. Đây là nỗ lực lớn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, chúng ta hoàn toàn có thể đẩy nhanh hơn nữa quá trình đưa nguồn năng lượng sạch này vào cuộc sống.

Tại hội thảo về vấn đề sử dụng năng lượng mặt trời mới đây, Viện trưởng Viện Năng lượng Phạm Khánh Toàn đặc biệt chú ý đến chính sách phát triển thiết bị đun nước nóng và cung cấp nguồn điện. Ông cho rằng với giá điện như hiện nay, sử dụng các thiết bị đun nước nóng bằng mặt trời có thể cạnh tranh và có lãi. Vì thế, để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời, Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu, khảo sát thị trường, đánh giá hiệu quả kinh tế, quảng bá trên phương tiện thông tin đại chúng.

Với pin mặt trời, khó khăn lớn nhất là giá thành còn quá cao so với khả năng tài chính của đồng bào vùng sâu, vùng xa. Để thiết bị này đến được với người dân thì sự hỗ trợ của Nhà nước có tính quyết định. Ông Toàn cho biết thêm: Các tấm pin mặt trời hiện sử dụng ở ta đều được nhập từ nước ngoài, chất lượng tốt và hoạt động ổn định. Song các thiết bị phụ trợ như bộ điều khiển, ác qui... do trôi nổi từ nhiều nguồn nên chất lượng chưa cao, trong khi các dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa ở các địa phương chưa được chú trọng. Vì vậy, sự hỗ trợ kỹ thuật, thiết kế tiêu chuẩn phù hợp cho các thiết bị, xây dựng cơ chế buộc thực hiện đối với các dịch vụ điện mặt trời, bảo đảm tính an toàn và độ tin cậy nên sớm được cơ quan chức năng ban hành. Ngoài cơ chế hỗ trợ tài chính, Nhà nước cũng nên xem xét đưa ra quy chế về sự phối hợp giữa Bộ Công nghiệp, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, UBND các tỉnh và các nhà đầu tư vào các dự án điện mặt trời để khai thác chúng hiệu quả nhất.

Sử dụng năng lượng mặt trời mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, góp phần bảo tồn nguồn năng lượng truyền thống, bảo vệ môi trường và thực hiện điện khí hóa nông thôn, vùng sâu, vùng xa là việc làm cần thiết. Vì thế Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ tích cực cho các cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ cũng như người sử dụng các công nghệ năng lượng mặt trời.



Theo: Hà Nội mới – 6/9/2004

0 Comments:

Post a Comment

<< Home